Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Những vướng mắc cần đi theo lối riêng tháo gỡ.

Tình trạng học trò “nói không” với môn Ngữ văn khi chọn lựa khối thi đại học đang có chiều hướng gia tăng đã khiến cho số học trò, số lớp học tự chọn môn Ngữ văn càng trở thành lác đác, teo tóp dần

Những vướng mắc cần tháo gỡ

Về phía Bộ GD&ĐT, cần có ngay sự hợp nhất về điều chỉnh có lí nội dung cuốn tài liệu chỉ dẫn chủ đề tự chọn mà Bộ đã phát hành.

Hịện nay, đa số các trường THPT có dạy học chương lớp lang chọn đều dạy theo ban cơ bản thực hành chuẩn bám sát. Đáng quan ngại là chất lượng đầu vào của những “lớp chọn” khối C, D này ngày một sút giảm. Nguyên tố quan yếu và quyết định nhất trong nắm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung, dạy học tự chọn Ngữ văn nói riêng vẫn là sự tận tụy, máu nóng, gắn bó với nghề của mỗi thầy giáo.

Thiếu đôn đốc  Cùng với các bộ môn khoa học cơ bản khác, Bộ GD&ĐT đã ứng dụng việc thực hành chương trình dạy học tự chọn môn Ngữ văn ở các trường phổ biến.

Thái độ lạt, nhạt hoét của một bộ phần học trò đối với môn Ngữ văn thời gian qua bắt nguồn một phần từ thái độ nhạt giả dụ không muốn nói là thiếu nghĩa vụ của những người đang cố đổ lỗi cho cảnh ngộ khách quan mà quên mất vai trò của người cha nội - người “truyền lửa” và thắp sáng tình đối với bộ môn Ngữ văn ở mỗi học sinh.

Qua tìm hiểu được biết, đã có không ít trường THPT đã “xóa sổ” lớp học theo các khối C, D vì đa số học trò đều có xu hướng thi các khối thi có các môn khoa học tự nhiên. Điều này đã “gây rối” cho thầy giáo trong quá trình soạn giáo án lên lớp. Trong khi đó, vấn đề dạy học chương lớp lang chọn còn khá mới mẻ đối với cả giáo viên và học trò. Cụ thể: Nhà trường có thể mua sắm thêm các loại tranh, ảnh minh họa, phù hợp với nội dung từng bài dạy cụ thể; tăng thêm các đầu sách văn học, sách tham khảo; tạo điều kiện cho học trò ở những lớp tự chọn có nhu cầu có thể đọc, mượn sách ở thư viện của nhà trường.

Đó là chưa kể đến sự trùng và thiếu đồng nhất tri thức trong nội dung giữa sách giáo khoa và tài liệu tự chọn.

Trong quá trình soạn, người viết đã thiếu thống nhất hay ít nhất cũng chưa có những chỉ dẫn cụ thể về nội dung các chủ đề sẽ được dạy theo thứ tự như thế nào, gây ra không ít lúng túng cho nghiêm phụ và học trò trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo, rà, đánh giá việc thực hiện chương trình tự chọn còn có phần bị buông lỏng. Chả hạn ở hai cuốn “Tài liệu chủ đề tự chọn nâng cao Ngữ văn 10” và “Tài liệu chủ đề tự chọn bám sát chương trình chuẩn Ngữ văn 10”.

Ban giám hiệu nhà trường hình như mới chỉ dừng lại ở việc phân tăng số tiết đối với những thầy dạy lớp có học chương trình tự chọn mà thiếu sự soát, đôn đốc cấp thiết. V Sự gợi mở và nồng nhiệt của thân phụ giúp học sinh háo hức trong giờ Ngữ văn tự chọn  lạt lẽo, nhạt phèo  Một nguyên do quan trọng khác khiến cho việc triển khai chương trình dạy học tự chọn gặp nhiều khó khăn là tình trạng học trò có thái độ lạt lẽo, nhạt thếch với môn Ngữ văn.

Công tác chỉ đạo của các cấp có hệ trọng trong việc thực hành vận dụng chương trình học tự chọn còn mang tính chung chung, chưa có những định hướng cũng như các chỉ dẫn thực hiện cụ thể, chi tiết. Bên cạnh việc chưa nhận được sự quan tâm, đôn đốc đúng mức từ các cấp có liên tưởng, những xuân đường trực tiếp dạy chương trình tự chọn còn gặp phải một khó khăn khác là thiếu tài liệu giảng dạy.

Hầu như tổ, nhóm chuyên môn và mỗi cá nhân chủ nghĩa thân phụ dạy học tự chọn đều phải tự “mò mẫm” trong việc thiết kế nội dung dạy học của từng chủ đề trong từng tuần cụ thể.

Để đáp ứng yêu cầu vận dụng có hiệu quả chương lớp lang chọn Ngữ văn, thời kì tới cần nhiều hơn sự quan hoài chỉ đạo, rà soát, đánh giá việc thực hành chương trình dạy học tự chọn ở các nhà trường. Về phía nhà trường, cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học cho môn Ngữ văn. Có thể soạn thành cuốn tài liệu có nội dung phù hợp để đay dựa vào đó mà thực hiện.

Bùi Minh Tuấn. Trong khi chương trình Ngữ văn 10 bộ chuẩn có thứ tự số tiết, bài tuần tự theo tiến trình lịch sử văn học, theo đặc trưng loại thể và tích hợp ba phân môn văn chương, Làm văn và Tiếng Việt thì các chủ đề tự chọn trong các cuốn tài liệu lại không theo thứ tự đó.

Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy, nhiều thầy đã nhận ra những điểm còn bất cập của bộ tài liệu này. Cả hai cuốn tài liệu trên đều do tác giả Bùi Minh Toán chủ biên nhưng khác nhau ở các nhóm cộng sự dự biên soạn. Ở một số ít trường khác, các lớp học trò có hướng thi theo các khối C, D vẫn được nhà trường thay duy trì nhưng luôn trong tình trạng “thoi thóp”, mỗi khối chỉ có một lớp.

Trong khi chờ đợi sự đổi thay, điều chỉnh từ Bộ, Sở GD&ĐT, cụ thể là những người đảm nhận môn Ngữ văn của Sở nên thống nhất nội dung dạy và học chủ đề tự chọn môn Ngữ văn.

Trong quá trình lên lớp, phụ thân vẫn phải tham khảo các cuốn “Tài liệu, chủ đề tự chọn nâng cao” và “Tài liệu, chủ đề tự chọn bám sát” do Bộ GD&ĐT phát hành năm 2006. Điều này dẫn đến việc học trò rất khó thu nạp bài vì có khi trong một tuần các em phải “chạy sô” có thể là đến hai tác giả, tác phẩm ở hai thời đoạn lịch sử văn học khác nhau.